CÕI RIÊNG

"Một mảnh tình riêng ta với ta"

Rang cà phê

Những chuyên gia của bộ phận rang kết hợp sự kinh nghiệm về kiểm soát thời gian cùng với nhiệt độ khoa học, tài năng uyển chuyển. Nhiệt độ rang là một điều tiên quyết đến chất lượng của hạt cà phê. Có những người yêu thích cà phê có vị nhẹ bắt nguồn từ những đặc tính độc đáo của hạt cà phê nguyên thủy (Ví dụ: Kenya, Java, Jamaica.) Một số khác lại thích cà phê rang đậm hơn mà đặc tính của những hạt này mang lại mùi vị đậm đà. Màu cánh gián được xem là màu hoàn hảo nhất, không qúa nhẹ hoặc qúa đậm.

Rang cà phê ở nhiệt độ từ 190-230OC và thời gian là khoảng 18-25 phút. (hiện nay, có những máy rang hiện đại thời gian rang chỉ cỏn 8 phút!).

Sau khi rang hạt cà phê mất từ 14-23% trọng lượng nhưng lạI có thể tích hạt nở ra khoảng 40-60% so với hạt còn xanh. Trong khi rang thì một loạt các phản ứng sinh hoá được xảy ra và quá trình này được gọi là Pyroiysis hay gọi tắt là Pyro.

Kết quả là một loạt các chất được hình thành như dầu cà phê, mạch olysaccharides phức hợp đường, chất béo không no, hương cà phê…Cho nên vào cuối quá trình rang bạn sẽ thấy hạt cà phê to hơn và trở nên bóng hơn. Trong quá trình này thì một vài loại tinh bột được biến đổi thành đường và thành caramel để tạo thành màu của cà phê.

Khi quá trình rang kết thúc thì cà phê phải được làm nguội thật nhanh để không làm mất mùi hương…

Người ta quan niệm rang cà phê thực sự là một nghệ thuật. công nghệ rang và người kỹ thuật phải lấy được nhiều nhất những đặc tính tự nhiên của các loại cà phê.

Mỗi loại cà phê bản thân nó có một hương vị riêng được hình thành từ các loại giống khác nhau và môi trường đất đai hình thành nên. Người kỹ thuật rang phảI biết nghe hạt cà phê nổ, ngửi được mùi cà phê được hình thành và phải xác định được đúng màu cần thiết khi rang. Nếu cà phê sau rang chưa có màu đậm cần thiết thì khi pha chế sẽ không có được một ly cà phê như ý, nhưng rang quá tay dẫn đến cháy thì bạn sẽ phải hối hận bởi phải thưởng thức một ly cà phê đen thui và đắng ngắt. Do vậy người kỹ thuật cần phải biết điều chỉnh thời gian rang, nhiệt lượng cung cấp vừa đủ trong quá trình rang cho phù hợp.

Quy trình chế biến cà phê nhân

Thu hoạch
Việc hái cà phê được thực hiện có thể bằng tay hoặc bằng máy. Máy được sử dụng trên những nông trại cà phê lớn, hay vùng đất phẳng– đa số ở Brazil. Công việc hái bằng tay được áp dụng ở những nông trại nhỏ với phí lao động thấp. Việc thu hái bằng tay có thể chọn lọc trái chín hay người ta có thể tuốt cành, khi đó sẽ thu hái cả quả chín, chưa chín cùng với lá và cành.

Chế biến:

Có 2 phương pháp chế biến chủ yếu. Phương pháp chế biến Khô thường được áp dụng rộng rãi tại châu Á, Braxin và châu Phi. Phương pháp chế biến Ướt thì tập trung ở khu vực Trung và Nam Mỹ.

Phương pháp chế biến Khô: trái cà phê được phơi khô dưới nắng trời trên nền sân xi măng hoặc gạch của các nông trại, và sẽ được đảo trộn liên tục cho khô đều. Sau khoảng 4 tuần cà phê sẽ đạt độ khô mong muốn. Khi đó máy bóc vỏ sẽ được sử dụng nhằm loại bỏ lớp vỏ quả.

Phương pháp chế biến Ướt: Trong khi Phương pháp chế biến Khô tách bỏ lớp vỏ thịt sau khi trái cà phê được phơi khô thì Phương pháp chế biến Ướt lớp vỏ thịt sẽ được làm sạch và làm mềm và tách ra bằng máy xát vỏ. Trái cà phê sau khi loại bỏ lớp vỏ thịt sẽ được ủ lên men trong 24 - 36 giờ, công đoạn này sẽ làm mất đi lớp chất nhầy. Tiếp đến, hạt cà phê được phơi trên nền sân xi măng hoặc được sấy khô bằng máy. Sau đó, máy bóc vỏ sẽ giúp bóc đi lớp vỏ thóc.

Các loại cà phê

Cà phê Arabica và Robusta là hai loại cà phê phổ biến nhất và cũng chiếm tỷ lệ áp đảo nhất trong tất cả các loại cà phê trên thế giới.
So với Robusta, Arabica đòi hỏi được gieo trồng ở những vùng đất cao hơn, có khí hậu mát mẻ hơn (khoảng 3,000 - 6,000 feet so với mực nước biển). Cà phê Arabica cho mùi vị ngon hơn nhưng cũng là loại "khó tính" hơn Robusta. Thời gian để quả cà phê Arabica chín lâu hơn, sản lượng cũng thấp hơn, tuy nhiên Arabica lại cho những hạt cà phê có mùi vị thơm ngon hơn, chính vì thế giá thành của nó cũng cao gấp đôi so với Robusta.

Trong khi đó, Robusta dường như "dễ chịu" hơn, loại cà phê này lại ưa thích điều kiện khí hậu ấm và khô hơn, độ cao lý tưởng khoảng 2,000 feet so với mực nước biển. Như chính tên gọi của mình, Robusta có sức phát triển mạnh mẽ và khả năng chịu đựng cũng thật đáng nể trong những điều kiện bất lợi mà Arabica sẽ tàn lụi.

Sự phối trộn giữa Arabica và Robusta được tiến hành nhằm tạo nên sự cân bằng và phong phú cho tách cà phê. Tính chua thanh của Arabica khi kết hợp với thể chất đậm đà của Robusta sẽ tạo nên một loại cà phê hòan hảo.

Cà phê ở Việt Nam

Ðược du nhập vào Việt Nam bởi những người Pháp theo Thiên Chúa Giáo vào những năm 1850. Việt Nam đã và đang trở thành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu cà phê, sau Brazil.
Sản xuất từ 800.000 đến 1 triệu tấn cà phê mỗi năm nhưng Việt Nam chỉ tiêu thụ 10% số lượng này. Số còn lại được xuất khẩu ra thế giới chủ yếu là các nhà sản xuất cà phê hòa tan nổi tiếng.

Ða số cà phê trong nước được sản suất bởi những hộ gia đình với diện tích gieo trồng khoảng 2-5 hecta/hộ. Các công ty Nhà nước chiếm khoảng 15% và cà phê được trồng trong những nông trại lớn hơn.

Buôn Ma Thuột, Dak Lak và vùng Cao Nguyên Trung Bộ là những vùng sản xuất cà phê nổi tiếng ở Việt Nam.

Robusta là loại hạt cà phê được gieo trồng chủ yếu ở Việt Nam do tính đặc trưng về địa lý, khí hậu và độ cao so với mực nước biển. Chính Phủ đang lên kế họach thay thế việc gieo trồng Robusta bằng Arabica ở những vùng thích hợp. Tuy dòng cà phê Arabica cho sản lượng thấp hơn nhưng nếu tính cùng số lượng thì lợi nhuận thu được gấp đôi so với Robusta.

Với hơn 150 năm thừa hưởng văn hóa cà phê, dân thưởng thức cà phê sành điệu Việt Nam đã và đang đưa cà phê trở thành một phần của văn hóa Việt Nam. Họ ngồi tán gẫu, nhìn những giọt cà phê đậm đà rơi, sự chọn lựa duy nhất còn lại chỉ là việc thêm đá, sữa đặc, hay cả hai.

Tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, và chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến thời kỳ khủng hoảng thừa...

Tuy cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt nam từ năm 1850, nhưng mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Năm 1930 ở Việt nam có 5.900 ha.Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13.000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố tự nhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê phải thanh lý.
Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước có khoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000 tấn.
Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây nguyên nhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên xô cũ, CHDC Đức, Bungary, Tiệp khắc và Ba lan, đến năm 1990 đã có 119.300 ha. Trên cơ sở này, từ 1986 phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân, đến nay đã có trên 390.000 ha, đạt sản lượng gần 700.000 tấn.
Ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc. Chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng lên hàng trăm lần. Thành tựu đó được ngành cà phê thế giới ca ngợi và chúng ta cũng đã từng tự hào vì nó. Tuy nhiên trong vài năm lại đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị trường, cà phê đã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch. Tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, và chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến thời kỳ khủng hoảng thừa. Giá cà phê giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục 30 năm lại đây. Người ta hô hào trữ lại cà phê không bán, người ta chủ trương huỷ bỏ hàng loạt cà phê chất lượng kém... Thời đại hoàng kim của ngành cà phê đã qua đi, ngành cà phê bước vào thời kỳ ảm đạm và có phần hoảng loạn, đài phát thanh và báo chí thường xuyên đưa tin nông dân chặt phá cà phê ở nơi này, nơi khác...
Có thể nói đây là tình hình chung của ngành cà phê toàn cầu và nó tác động lớn đến ngành cà phê nước ta, một ngành cà phê đứng thứ nhì thế giới với quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng. Tình hình thị trường thế giới tập trung vào những thay đổi then chốt của nền kinh tế cà phê thế giới, cán cân cung cầu và vận động của giá cả thị trường.
Ngoài cà phê Robusta hiện đang chiếm gần hết diện tích và sản lượng ra, Việt Nam đang thực hiện một chương trình mở rộng diện tích cà phê arabica, trong đó có cả một chương trình chuyển dịch cơ cấu giống đưa một số diện tích cà phê từ Robusta sang Arabica.

Lịch sử cà phê

Vào năm 850 sau Công Nguyên - Truyền thuyết kể rằng anh chàng chăn dê Kaldi người Êtiôpia một lần để ý thấy đàn dê của mình đùa giỡn một cách đầy hứng khởi trên sườn núi chung quanh một bụi cây có những quả mọng màu đỏ. Qua hôm sau, khi anh thả cho chúng gặm cỏ, đàn dê của Kaldi lại tiếp tục tìm đến sục sạo bụi cây có quả đỏ ấy. Mãi đến tận vài thế kỷ sau, người nông dân Êtiôpia mới bắt đầu gieo trồng và sử dụng những hạt cà phê bằng cách ăn hoặc lên men trong rượu.

1475 - Quán cà phê đầu tiên trên thế giới đã ra đời ở Constantinople.

1600 - Cà phê từ cảng Mocha thuộc Yemen được xuất khẩu sang châu Âu để cung cấp cho những quán cà phê đang rất thịnh hành ở Hà Lan, Anh và Pháp lúc bấy giờ. Từ đó, cà phê đã dần nhuộm nâu cả châu Âu.

1700 - Người Hà Lan và Pháp đã tiến hành cuộc chinh phạt và chiếm đảo Java và Martinique làm thuôc địa, bắt đầu việc gieo trồng cà phê ở đây. Hấu hết cà phê mà chúng ta gieo trồng ngày nay là giống hạt Arabica có xuất xứ từ Êtiôpia qua Yemen.

1850 - Một người Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo đã đưa cà phê du nhập vào Việt Nam. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.1900s - Cà phê được xếp vào loại hàng hóa có giá trị kinh tế, đem lại lợi nhuận cao nhất thế giới chỉ đứng sau dầu lửa. Không những thế, nó còn trở thành một thức uống được ưa chuộng trên thế giới, chỉ sau nước.

Cái hộp đựng giầy

Hai ông bà cụ nọ ,đã sống vơi nhau hơn 60 năm. Họ chia xẻ ngọt bùi ,dủ mọi thứ.Duy chỉ có cái hôp đựng giầy mà bà cụ để ở dưới gầm tủ là ông cụ không hề biết trong đó đựng cái gì. Và cũng tôn trọng riêng tư của bà,ông chẳng bao giờ hỏi tới cái hôp đó.


Năm này qua năm nọ,một ngày kia cụ bà bổng bệnh nặng.Biết vợ mình không qua khỏi ,cụ ông chợt nhớ tới cái hộp giầy bí mật.Bèn lấy đem đến bên giường cụ bà,cụ bà cũng đồng ý cho ông mở cái hộp ra.

Khi chiếc hộp được mở ra,bên trong chỉ vỏn vẹn có hai con búp bê bằng len nhỏ va một số tiền là 95.500 đô. Ông cụ ngạc nhiên hỏi vợ" Thế này là sao?"

"Khi chúng ta mới lấy nhau", cụ bà nói" Bà nội của em có dặn em rằng: Bí quyết để giữ hạnh phúc gia đình là đừng bao giờ cãi nhau.Nếu lỡ chồng con có làm điều gì khiến con bực mình,tức giận. Con nên im lặng và bình tỉnh,đi ra chỗ khác lấy len đan một con búp bê nha con".Và anh thấy đó...

Cụ ông không cầm được nước mắt. Cả suốt cuộc đời ,sống chung với nhau người vợ thân yêu của mình chỉ giận mình chỉ có hai lần thôi ư? Ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng.

"và còn món tiền lớn nay thì sao?" Ông cụ hỏi.

Cụ bà mắt đỏ hoe trả lời:" .Và đó là.. số tiền em đã bán những con búp bê mà em đã đan.."

Dấu phẩy

Comma (,) What do you do to US?

Dấu phẩy trong Việt Ngữ:

Người vợ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con, vợ chồng hạnh phúc"

Người chồng sẽ đọc:
"Mỗi gia đình có 2 con vợ, chồng hạnh phúc"


Dấu phẩy trong Anh Văn:

Woman without her Man is nothing

Người Đàn Ông sẽ đọc là: “Woman! without her Man, is nothing.”

Còn người Đàn Bà sẽ đọc là: “Woman! without her, Man is nothing.”