CÕI RIÊNG

"Một mảnh tình riêng ta với ta"

Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng

7 cách Đắc nhân tâm nơi công sở



Hầu hết mọi người ai cũng hiểu được tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ trong cuộc sống. Không có gia đình và bạn bè, cuộc sống của bạn không những buồn tẻ mà còn gặp nhiều khó khăn vì bạn phải một mình đối mặt với mọi việc.
Trong công việc cũng vậy. Không ai đi một mình đến đỉnh thành công, sẽ có những lúc bạn cần sự giúp đỡ của đồng nghiệp để giải quyết những khó khăn trong công việc. Mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp còn làm cho cuộc sống nơi công sở của bạn cân bằng. Chính yếu tố này sẽ đem lại hiệu suất làm việc cao hơn, giúp bạn tiến nhanh hơn trên con đường sự nghiệp.

Quản lý chuỗi cung ứng: nghề mới nổi?

Quản lý chuỗi cung ứng là một loại công việc thực ra mới xuất hiện gần đây ngay cả trên thế giới cũng vậy. Đây là một công việc tuy mới mà cũng có cũ. Tuy nhiên nếu chúng ta không phân biệt rõ vai trò, vị trí và trách nhiệm của người quản lý chuỗi cung ứng thì sẽ gây nhầm lẫn rất nhiều thậm chí sẽ bị đánh đồng với những nghề khác. Ở Việt Nam mấy năm gần đây chức danh này cũng đã dần xuất hiện, không tin thì bạn có thể thấy ngay trên danh mục tuyển dụng của Vietnamworks. Tuy nhiên cũng chưa có một ranh giới thực sự giữa logistics và supply chain ở Việt Nam trừ những tập đoàn lớn của nước ngoài. Thế nên tôi cũng hi vọng qua bài viết (bài này tôi dịch lại) để bạn đọc có một cái nhìn rõ hơn, từ đó định hướng nghề nghiệp của mình đúng hơn, hiệu quả hơn. Điểm mấu chốt vẫn là liệu quản lý chuỗi cung ứng có khác nhiều với logistics không? Từ đó thì yêu cầu công việc sẽ ở mức độ nào. Tôi cũng mong bạn đọc có một cái nhìn rõ ràng, sáng suốt, không bị những hào quang che lấp để rồi học xong không biết mình làm gì và làm ra sao. Tôi cũng lưu ý là nghề quản lý chuỗi cung ứng (supply chain professional) ở Việt Nam sẽ đòi hỏi một quá trình tiến hòa dần và chừng nào doanh nghiệp còn chưa thấy vai trò và thực tế quan trọng của quản lý chuỗi cung ứng thì chừng đó nghề này sẽ vẫn còn ở giai đoạn trứng nước.
Bài dịch dưới đây được nắn cho bạn đọc Việt nam do đó có nhiều chỗ hơi unofficial một tí, để bạn đọc dể cảm nhận.
Nghề quản lý chuỗi cung ứng thực sự có nghĩa là gì? Nếu bạn làm việc trong lĩnh vực logistics, mua hàng, quản lý tồn kho tới 15 năm thì bạn có trờ thành chuyên gia chuỗi cung ứng hay không? Hay liệu bạn phải thực sự cần thêm những kỹ năng và kinh nghiệm nào khác nữa ? Để giải quyết câu hỏi ấy, một sáng kiến nghiên cứu phối hợp giữa doanh nghiệp và viện nghiên cứu (đúng kiểu việt nam nhé..:-) ) đã đưa ra những kế hoạch hành động và hướng dẫn cho nghề chuỗi cung ứng.
Nhiều năm quan, có thể thấy rõ việc nhìn nhận quản trị chuỗi cung ứng như là tập hợp các kỹ năng quan trọng và khá đa dạng ngày càng trở lên quan trọng và cấp thiết. SCM đã “nổi” lên xuất phát từ việc quan hệ quá lỏng lẻo giữa các phòng ban-như là mua hàng, sản xuất, và logistics – dẫn tới việc cần thiết phải có một nguyên tắc quản lý chéo và tích hợp giữa các phòng ban này lại. (kiểu quan hệ lỏng lẻo này đang rất phổ biến ở Việt Nam nhưng ở Tây cũng chẳng kém cạnh, nó tóm lại là đúng kiểu “đèn nhà ai nhà ấy rạng” hay “who care?”…). Với sự lớn nhanh như thổi của quản trị chuỗi cung ứng là việc mọc lên như “nấm” các học viên đào tạo chào mới tới tấp các bằng cấp về SCM. Tương tự như thế, các công ty cũng “a dua” chỉnh sửa, đại tu nhiều bộ phận của mình để có thể bao trùm nhiều thứ mà supply chain có “nói” đến .
Rõ ràng là SCM đã trở thành một nghề và đòi hỏi một hệ thống quản lý nhân sự theo nó, nhưng phần lớn các doanh ngiệp lại chỉ tập trung vào một số chức năng riêng lẻ. Do đó, việc định hình rõ nghề supply chain là thực sự cần thiết.  
Mục tiêu cốt lõi của bài này là giúp mô tả hệ thống mô hình (model) kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để trợ thành một chuyên gia SCM thực thụ. Mô tả này dựa trên kinh nghiệm và thực hành tốt nhất của tập đoàn IBM (bộ phận quản lý nhân sự) và có so sánh với dăm ba tổ chức khác nữa.
Trước hết sẽ là tập hợp một định nghĩa về nghề chuỗi cung ứng (ở ta, cũng còn lộn xộn lắm, nhiều bác thì chuỗi cung cấp, chuỗi cung, cung ứng, cứ rối tinh rối mù cả lên, làm các em mới vào nghề cứ nhìn vào thấy hoảng, đôi lúc tẩu hỏa nhập ma luôn..thôi thì mong lúc nào đó các bác hay viết trong nghề chịu khó ngồi lại thống nhất một cách hiểu đi, ..mong lắm..lắm..).
Và định nghĩa ấy phải xuất phát từ thực tế của cộng đồng supply chain để từ đó phát triển và đề xuất những chương trình đào tạo, huấn luyện phù hợp.  Tiếp theo chúng tôi sẽ đi sâu vào tầm quan trọng của việc hiểu đúng về nghề, giải thích các giá trị mang lại từ nghề này (cái này rất quan trọng, value prosposition là tiền đề để quyết định việc nào đó có trở thành nghề được không? Nếu chẳng đem giá trị nào thì chẳng nên coi là nghề, ví dụ nghề cướp biển cũng là nghề nếu đứng trên phương diện giá trị, đó là nó đem giá trị âm (ặc ặc) đến cho các hãng tàu và chủ hàng, đem giá trị dương đến cho các bác cướp biển. Nói vui thêm, chứ đấy cũng là một loại kinh doanh trong supply chain đấy, vì nó thay vì xây dựng supply chain thì nó break the chain mà..break the chain thì bác nào chẳng sợ ..thế nên kinh doanh rủi ro vẫn phát đạt)
Định nghĩa về nghề quản trị chuỗi cung ứng
Trước khi đi vào các đặc thù của nghề chuỗi cung ứng, chúng ta cần định nghĩa supply chain chuẩn mà CSCMP đã đưa rất hoàn chỉnh
Supply chain management encompasses the planning and management of all activities involved in sourcing and procurement, conversion, and all logistics management activities. Importantly, it also includes coordination and collaboration with channel partners, which can be suppliers, intermediaries, third-party service providers, and customers. In essence, supply chain management integrates supply and demand management within and across companies.
Đây là một quan điểm tích hợp thể hiện sự tiến hóa của chuỗi cung ứng trong nhiều năm qua. Gốc rễ của cái nhình này là vào đầu những năm 1960 khi mà các nhà quản lý vận tải và nghiên cứu  thấy rằng các quyết định vận tải có ảnh hướng đến các hoạt động khác của doanh nghiệp, đặc biệt là quản lý tồn kho và sản xuất. Đầu tiên, khái niệm quản trị logistics thể hiện được việc phân tích đánh đổi giữa tồn kho và vận tải.
Mối quan tâm sâu hơn về tích hợp lên cao trào vào những năm 1990, dưới cái tên là quản trị chuỗi cung ứng (xin lưu ý, là tôi dùng thoải mái hai từ quản trị và quản lý, mặc dù thì nhiều người vẫn cho là nó có khác nhau, nhưng xin miễn bàn ở đây).  Trong khi đó logistics thì vẫn được coi là như là một phòng ban riêng rẽ tập trung vào phân phối thành phẩm đến khách hàng, thì quản lý chuỗi cung ứng đòi hỏi logistics phải phối hợp với cả cung cấp đầu vào (inbound supply – ý muốn nói đền cung cấp nguyên vật liệu đầu vào) để giảm thiểu sự tắc nghẽn và tối đa hóa tận dụng . Quản lý chuỗi cung ứng từ đó mà ảnh hướng tất cả các bộ phận khác của doanh nghiệp. Sản xuất, chẳng hạn, trước đây được coi là như là một cái tháp ngà riêng biệt thì nay nó không thể tạo ra giá trị mà thiếu sự phối hợp với các bộ phận khác dưới sự lãnh đạo của chuỗi cung ứng. (Phần này tôi cũng lưu ý, đối với nhiều công ty đa quốc gia đôi khi họ có bộ phận sản xuất riêng, chuỗi cung ứng riêng, song cái riêng ấy lại là chung. Ví dụ, sản xuất đặt tại Việt Nam nhưng phục vụ cho toàn bộ khu vực Asean chẳng hạn thì bộ phận sản xuất ấy sẽ nằm dưới bộ phận quản lý chuỗi cung ứng khu vực, trong khi bộ phận quản lý chuỗi cung ứng tại Việt Nam (phục vụ thị trường VN) thì độc lập với sản xuất, mà chỉ liên quan đến phần mua bán phục vụ VN mà thôi..nói thế vẫn rối..rắm quá..nhưng để hôm khác tôi sẽ giúp bạn một cái sơ đồ có lẽ sẽ rõ hơn..:). SCM về cơ bản sẽ gom các silo phòng ban chức năng lại để rồi chia thành hệ thống các quy trình tích hợp (mà có thể ví dụ như quy trình plan, source, make, deliver, return). Doanh nghiệp sẽ vận dụng các tiếp cận hệ thống để thúc đẩy sự liên kết và phối hợp nội bộ cũng như với các đối tác chuỗi cung ứng bên ngoài, thường là phải viện đến sự hỗ trợ của công nghệ. Thế nên cũng có nhiều bác IT trở thành supply chain leader là vì thế..
Nhu cầu tích hợp cũng là thể hiện ở ngay cả những trường đại học và các tổ chức nghề nghiệp. CMCMP trước đây thành lập năm 1963 có tên là National Council of Physical Distribution Mangement. Khi mà giá trị của việc tích hợp phòng ban ngày càng quan trọng, thế là phải đổi tên  thành Council of Logistics Management năm 1985, để rồi tiếp tục mang cái tên mới là Council of Supply Chain Management professionals năm 2005. (Việt Nam thì vẫn chưa có nhé…). Các tổ chức khác cũng thế ,hoặc theo hướng rộng hơn hoặc theo hướng sâu hơn vào chức năng nào đó. Ví dụ, Insitute of Supply Management (ISM) (Trước đây là National Association of Purchasing Managers) và APICS –The Association for Operation Management (truoc đây là American Production and Inventory control Society).
Các trường đại học cũng thế, nhanh tay ra ngay các chương trình đào tạo về supply chain.
Vai trò, trách nhiệm và bộ kỹ năng của SCM professionals (Roles, Responsibilities, and Skill Sets)
Làm thế nào chúng ta xác định được nghề quản lý chuỗi cung ứng lý tưởng? Vai trò của họ là gì? Trách nhiệm cần có là gì? Làm thế nào họ có thể được khai thác một cách triệt để trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp? và kỹ năng và kinh nghiệm nào họ cần có?
Trước hết và trên hết, người làm nghề SCM phải có kinh nghiệm trên nhiều chức năng của chuỗi cung ứng và có thể dẫn dắt việc thiết kế, triển khai, và quản lý các giải pháp tích hợp các phòng ban. Trong khi các giải pháp ấy mới chỉ ở cấp nội bộ, thì họ cũng phải cần mở rộng ra cả bên ngoài doanh nghiệp liên quan đến nhiều tầng lớp khác nhà cung cấp và khách hàng. Những giải pháp ấy đòi hỏi việc tích hợp và phối hợp các quy trình bao gồm:
•           Product/service development launch.(Tung sản phẩm/dịch vụ)
•           Supplier relationship collaboration.(cộng tác nhà cung cấp)
•           Manufacturing customization. (customize hoạt động sản xuất, Make to order hay make to stock decision?)
•           Demand planning responsiveness. (hoạch định cầu)
•           Order fulfillment/service delivery. (hoàn thành đơn hàng)
•           Customer relationship collaboration.(cộng tác khách hàng)
•           Life cycle support.(hỗ trợ vòng đời sản phẩm)
•           Reverse logistics.
Ở cấp độ Senior, nhà điều hành SCM phải đánh giá sự trade-off giữa các chức năng của supply chain. Để xác định và đánh giá hiệu quả các trade-off, họ phải pha trộn được kiến thức đủ sâu về từng chức năng và mức độ am hiểu cộng tác liên phòng ban. Ví dụ, họ phải cân bằng giữa dịch vụ khách hàng và chất lượng với tổng chi phí chuỗi cung ứng. Để cân bằng việc này, họ phải cân nhắc các khía cạnh của hoạch định supply chain, quản lý và đo lường liên quan đến mua hàng, sản xuất và logistics. Quan trọng nữa, đánh giá này phải bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ và giải pháp cũng như thông tin đi kèm.
Thêm vào đó để xác định được trade-off, người quản lý chuỗi cung ứng phải có khả năng phát triển và triển khai hệ thống giải pháp chuỗi cung ứng toàn diện và tích tích hợp hợp và sáng tạo nữa.
Người quản lý cũng cần phải phổ biến được kiến thức giúp các đối tác supply chain của mình thiết kế và quản lý chuỗi cung ứng của họ hiệu quả hơn. (Việc này thì Toyota là vô địch, họ có đội đặc nhiệm chuyên đi giúp supplier của mình improve supply chain ). Họ cũng phải có khả năng áp dụng hiệu quả các phương pháp và nguyên tắc SCM vào các bộ phận khác của donah nghiệp, xây dựng bản kiến trúc hoàn chỉnh cấp độ doanh nghiệp cho những giải pháp phức tạp. Về bản  chất, họ đúng nghĩa là một nhà tư vấn chuỗi cung ứng. Cuối cùng, họ phải có thể phân tích hiệu quả kinh doanh đứng trên góc độ supply chain để giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nhà quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp cũng cần có kỹ năng và khả năng vận hành một cách hiệu quả trên tổng thể doanh nghiệp. Nên nhớ đừng đề supply chain manager rơi vào cái mà ta vốn đang chê trách là “tư duy phòng ban chức năng”. Nghĩa là nhà quản lý supply chain phải tránh được cái bẫy ấy đồng thời phải triển mạnh các kỹ năng phối hợp giữa các phòng ban tích hợp và tương thích với chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, điều này sẽ đòi hỏi chúng ta phải tái thiết kế lại hệ thống kỹ năng, vai trò, trách nhiệm của nhà quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp.
Tầm quan trọng của việc sở hữu “đúng” kỹ năng chuỗi cung ứng được nhấn mạnh bởi nghiên cứu của Myers (2004). Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng kinh nghiệm và đào tạo trong quá khứ dành cho nhà điều hành chuỗi cung ứng không dự báo được họ có thành công trong công việc hay không; thay vào đó chính các kỹ năng hiện tại và tương lai của công việc sẽ dự báo thành bại. (nghĩa là tùy theo hoàn cảnh, thì yêu cầu kỹ năng sẽ khác nhau..)
Trong khi nhiều nhà nghiên cứu và thực hành trong nghề đang kêu gọi cần sự phát triển nghề nghiệp SCM nhưng một số lại bất đồng quan điểm về quy trình phát triển ấy sẽ phát triển ra sao. Phần lớn chỉ đồng ý ở những kỹ năng độc lập với bối cảnh (context-independent skills) đó là những kỹ năng quản lý và lãnh đạo thông thường như kỹ năng con người, xã hội, cộng tác, quản lý sự thay đổi, giao tiếp, ra quyết định, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian và xây dựng văn hóa.
Tuy nhiên khi nói đến khía cạnh kỹ năng kỹ thuật và công nghệ (technical and technological skills) thì lại có nhiều bất đồng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nghề SCM không nên tính đến các kỹ năng về kỹ thuật và công nghệ. SỐ khác thì coi đây là yếu tố quan trọng nền tảng cho việc phát triển các năng lực phối hợp các phòng ban, các công ty. Một số chuyên gia thì nhấn mạnh đến vai trò kỹ năng IT .
Còn tôi, tin rằng một người quản lý chuỗi cung ứng thực thụ cần phải có 5 kỹ năng cơ bản sau: functional (chức năng), kỹ thuật, lãnh đạo, quản lý toàn cầu, và kinh nghiệm cũng như sự tín nhiệm.
Kỹ năng về chức năng. Một người làm nghề SCM phải có khả năng đặt ra những vấn đề  và có những kỹ năng liên quan đến các phòng ban chính như mua hàng (procurement), hoạch định cung/cầu (demand/supply planning), sản xuất, logistics và hoàn thành đơn hàng (order fulfillment). Mỗi cá nhân phải phải có khả năng làm việc ở cấp độ vận hành (operational level) ở nhiều chức năng khác nhau để hiểu được những quy trình hàng ngày, những thách thức và khó khăn. Kinh nghiệm này bao gồm cả ở cấp độ vận hành và quản lý vận hành. (chả thế, mà nhiều Supply Chain Manager (Directors, thậm chí là VIP) đều quần jean, áo thun, sẵn sàng chui vào mọi ngóc ngách của kho hàng, dây truyền để tìm hiểu thực tế, chứ cứ ngồi tháp ngà thì chẳng bao giờ thấy được thực tế ra sao…theo tôi thì họ cần phải như thế…nhưng nghe đến đây chắc nhiều bạn thấy mệt đây..)
Kỹ năng về kỹ thuật. với vai trò ngày càng lớn của công nghệ trong Supply chain, một người chuyên gia SCM thực thụ phải có kinh nghiệm ứng dụng CNTT một cách hiệu quả. Điều này không có nghĩa là họ phải có kinh nghiệm trong phát triển công nghệ.  Tuy nhiên, họ phải có khả năng giải quyết các lựa chọn, thực thi và triển khai công nghệ hiệu quả. Hiểu rõ mối quan hệ giữa quy trình supply chain với các giải pháp công nghệ. (Điều này thì ở VN còn khá hạn chế, tôi thấy nhiều nhà quản lý supply chain còn thiếu kỹ năng này…hoặc còn rất mơ hồ về nó..)
Kỹ năng lãnh đạo. Một nhà quản lý chuỗi cung ứng phải thể hiện khả năng lãnh đạo. Họ có thể lãnh đạo một nhóm dự án liên quan đến khách hàng, đối tác, thậm chí là đối thủ một cách hiệu quả cũng như trong nội bộ. dĩ nhiên đi kèm với kỹ năng lãnh đạo là khả năng truyền đạt thông tin, đàm phán, giải quyết vấn đề phát sinh, lãnh đạo nhóm và quản trị dự án.
Quản lý toàn cầu.  SCM ngày càng mở rộng ở cấp độ toàn cầu do đó nhà quản lý cũng cần phải có kỹ năng và kinh nghiệm hoạch định và vận hành ở cấp độ toàn cầu. Kinh nghiệm bao gồm khả năng hiểu biết môi trường chuỗi cung ứng toàn cầu. Lý tưởng hơn họ phải có kinh nghiệm làm việc ở nhiều quốc gia. (điều này thì ở VN có thể chưa cần, nhưng cũng nên hiểu..)
Kinh nghiệm và sự tín nhiệm. Một nhà quản lý chuỗi cung ứng phải có những kiến thức, rộng và sâu trong việc đánh giá môi trường cạnh tranh, để mô hình hóa chiến lược chuỗi cung ứng, đánh giá và tổ chức những giải pháp, triển khai thay đổi trong và ngoài doanh nghiệp. Khả năng này chỉ đạt được từ kinh nghiệm và sự tín nhiệm từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tín nhiệm bên ngoài có thể đạt được qua nhiều hoạt động như tham gia các hội thảo ngành, nhân những giải thưởng và sáng kiến, xuất bản các bài báo, nghiên cứu.
Kế hoạch hành động
Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng mô hình truyền thống vốn được chấp nhận rộng rãi về con đường công danh sự nghiệp của các nhà điều hành được viết trong cuốn Organization Man (William H.Whyte) năm 1956 đang thay đổi nhiều. Mô hình của Whyte cho rằng các nhà lãnh đạo hàng đầu phải từ các trường đại học hàng đầu (lý tưởng nhất là từ các trường thuộc nhóm Ivy League –nhóm một thời là tinh hoa và tự hào của nước Mỹ, các trường thuộc phía đông bắc nước Mỹ như Yale, Harvard,..) và các chương trình huấn luyện nội bộ để trở thành lãnh đạo. Tuy nhiên nghiên cứu của Cappelli và Hamori, thì các nhà lãnh đạo của Fortune 100  đã đa dạng và từ nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Tương tự như thế, nhà quản trị chuỗi cung ứng cũng đi lên từ nhiều cách khác nhau. Dẫn đến việc bộ phận nhân sự và chuỗi cung ứng phải cộng tác với nhau để xây dựng các chương trình tuyển dụng và định hướng nguồn nhân tài cho lĩnh vực này. Đường thẳng liền trong hình 1 mô tả cách nhìn thông dụng trong quá khứ. Tài năng thường đi từ các cấp bậc trong từng phòng ban như sản xuất, logistics, fulfillment.. Trong khi  đường nét đứt trong hình 1 mô tả đường sự nghiệp cần thiết qua nhiều phòng ban của nhà quản lý chuỗi cung
ứng (xem chi tiết kinh nghiệm tại  IBM ở phần cuối )
Các cấp độ trong tổ chức ngày càng phẳng hơn và các kỹ năng mang tính tổng thể ngày càng quan trọng hợn đối với nhà quản lý chuỗi cung ứng, do đó các công ty cần có những mô hình đào tạo khác nhau.
Ngày nay, đối với các doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, và viện trường đào tạo  thì việc xác định kiến thức và kỹ năng của một SCM professional là rất cần thiết. Họ cần phối hợp với nhau để xây dựng một hệ thống đào tạo bài bản và thống nhất hơn. Các tổ chức APICS, CSCMP, và ISM cũng đang tiến tới tiêu chuẩn hóa thông qua nhiều hệ thống chứng chỉ khác nhau. Nhưng suy cho cùng vẫn chỉ là trên lý thuyết mà nghề supply chain đòi hỏi cả kinh nghiệm sâu sắc nữa.
Để phát triển một tổ chức supply chain mạnh, các công ty cần làm ngay việc đầu tiên là xác định nhân tài và đào tạo họ để đáp ứng các trường hợp cần thiết. Và hơn tất cả, phải xây dựng cho họ khả năng nhìn xa trông rộng để có thể nhanh chóng có được những kỹ năng cần thiết đáp ứng sự thay đổi nhanh về công nghệ, cạnh tranh và thị trường.
Vài dòng với các bạn hứng thú với nghề SCM,
Tôi hi vọng qua bài này bạn hình dung được rõ hơn về nghề quản lý chuỗi cung ứng. Và bạn cũng đừng hỏi tôi làm sao có thể trở thành nhà quản lý chuỗi cung ứng, câu trả lời bạn hãy lăn vào công việc, lăn hết từ bộ phận này đến bộ phận khác, từ đó bạn sẽ có cái nhìn đúng về nghề. Và bạn cũng đừng máy móc rằng hễ supply chain management là phải quản lý tất tần tật từ source, make, delivery (logistics), return..cái đó còn tùy vào tổ chức của bạn nữa..
Tôi cũng rất mong một hội nghề quản lý supply chain ra đời ở VN. Cảm ơn các bạn đã quan tâm.

Chân dung Thái Doãn Hiểu qua đối thoại

TRÒ CHUYỆN VỚI  THÁI DOÃN HIỂU TÁC GIẢ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


NHỤY NGUYÊN thực hiện

Biết về Nhà nghiên cứu và Phê bình văn học Thái Doãn Hiểu đã lâu song tiếp cận được mới thật khó. Nghe bảo ông từng lặn qua Nam bán cầu ở thành phố Sydney mong không bị ai quấy rầy để hoàn thành công trình thơ mà ông đeo đẳng có dễ gần vài chục năm nay, rồi sớm trở thành một cư sĩ bất đắc dĩ... Cũng thật khó hiểu, cái “siêu đầu” nom có vẻ hói ấy, ngỡ như tôi đã hân hạnh được gặp đâu đó tại một góc... biếm họa ! Vậy mà, trong dịp Festival Thơ Huế 2008 vừa qua, một người bạn vong niên của tôi đã lén “chỉ điểm” ông mà rằng: Thái Doãn Hiểu đấy. Chính y là tác giả của bộ sách hoành tráng bậc nhất về nền thi ca Việt Nam hiện đại. Ngay lập tức, ông bị dẩn độ về Tòa soạn tạp chí Sông Hương. Tại  đây, Ban biên tập đã hỏi cung ông…

Tiếng Việt - Tiếng Anh đều rắc rối

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Me hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Phạm Duy (Tình ca, 1953)

Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. Johnson ăn mặc xuyền xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàng ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, ... hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon "thần sầu quỉ khốc" !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc "đờ-mi gác-xông", sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.

Chúng tôi gặp nhau trên chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Huế. Tôi về thăm quê, còn Johnson thì sau mấy tháng nghiên cứu phong tục Tây nguyên xuống Nha Trang rồi tiếp đi dự Festival Huế. Ðường dài, tàu chạy dằn xóc, chung quanh ồn ào, lao nhao chẳng ai ngủ được. Johnson rủ tôi xuống toa ăn uống, kêu mỗi người một ly cà phê đen, một bình trà nóng rồi trao đổi đủ thứ chuyện trên đời. Tôi cũng khá thán phục sự hiểu biết và thành thạo văn hóa Việt Nam của Johnson khi nghe hắn thỉnh thoảng chêm vô câu chuyện mấy câu ca dao, thành ngữ tiếng Việt. Thật thú vị khi nói chuyện với một người Mỹ bằng tiếng Việt về đề tài ngôn ngữ Việt Nam (dễ chịu hơn nhiều khi khi nó chuyện với một người Mỹ bằng... tiếng Anh). Vậy mà Johnson vẫn lắc đầu than:

- Tiếng Việt của mấy ông rắc rối quá! Tôi học đã lâu mà vẫn còn lúng túng, nhiều lúc viết sai, nói sai lung tung cả lên. Này nhé, từ xưng hô, ăn uống, giao tiếp... thật lắm từ khác nhau chẳng đơn giản như tiếng Mỹ của tớ, chỉ một từ you là để nói với tất cả người đối thoại, tiếng Việt thì phân biệt ông, bà, anh, chị, em, con, cháu, ngài, mày, thầy, thằng, ... rành mạch. Tiếng Mỹ thì dùng một chữ black để chỉ tất cả những vật gì, con gì có màu đen trong khi đó tiếng Việt thì khác, ngựa đen thì gọi là ngựa ô, chó đen thì kêu là chó mực, mèo đen thì gọi là mèo mun, gà đen thì là gà quạ, bò đen là bò hóng, mực đen là mực tàu, tóc đen thì hóa thành tóc nhung hoặc tóc huyền. Ðã là màu đen rồi mà người Việt còn nhấn mạnh thêm mức độ đen như đen thủi, đen thui, rồi đen tuyền, đen thắm, tím đen, đen ngắt, đen bóng, đen sì, đen đủi, đen thẳm, đen óng, đen thùi lùi, đen kịt, đen dòn... Còn để chỉ màu ít đen hơn thì người Việt dung chữ đen hai lần: đen đen.

Tôi cười cười:

- Thì tiếng Mỹ của ông nhiều lúc cũng rắc rối kia mà. Này nhé, người Việt nói: "Hôm qua, tôi đi tiệm" thì người Mỹ lại nói "Yesterday, I went to the shop". Tiếng Anh, đi là go, nhưng đã đi (quá khứ) thì phải viết là went. Bản thân chữ hôm qua (yesterday) đã là quá khứ rồi thì ai cũng biết mà gì cần phải đổi go thành went chi cho rối mấy người học Anh văn? Nội chuyện học thuộc lòng 154 động từ bất qui tắt của mấy ông cũng đủ làm nhiều người trên thế giới phải thi rớt lên rớt xuống. Người Việt nói hai con chó mà chẳng cần thêm s hoặc es thành hai con chó "sờ" (two dogs) như tiếng Mỹ. Một đứa con nít thì nói là one child là được rồi, vậy mà thêm một đứa nữa thì bắt đầu rối, chẳng phải là two childs mà thành two children. Một con ngỗng là one goose, hai con ngỗng thì thành two geese. Vậy mà viết một con cừu là one sheep nhưng hai con cừu thì cũng là two sheep, chẳng chịu đổi gì cả ?!.

Sự bất hiếu ngọt ngào

Có một sự thật là: tình thương yêu và hy sinh vô bờ của người mẹ cho những đứa con từ khi có loài người đến nay chẳng hề thay đổi, nhưng lòng hiếu thảo của những đứa con đối với mẹ mình càng ngày càng trở thành một nguy cơ trầm trọng.
Hai bộ phim hành động Mỹ nổi tiếng mà tôi xem đi xem lại nhiều lần là Godfather và American Gangster. Và trong cả hai bộ phim đầy cảnh bắn giết này có một câu chuyện luôn luôn làm tôi thực sự xúc động. Đó là tình yêu của hai ông trùm Mafia Mỹ đối với người mẹ của mình. Lòng hiếu thảo là một chiếc thước đo đạo đức có giá trị nhất. Đó cũng là phần nhân tính cuối cùng của con người mà nếu đánh mất thì con người không còn gì để nói nữa. Có lẽ vì ý nghĩa ấy mà những nhà làm phim Hollywood đã cố níu giữ lại cho xã hội một niềm tin cuối cùng về nhân tính con người. Bởi phần nhân tính này với nhiều yếu tố là phần nhân tính khó bị suy đồi nhất.

Những năm gần đây, chúng ta phải đau đớn chứng kiến những chuyện bất hiếu. Và có những chuyện bất hiếu đã trở thành những tội ác man rợ. Đó là những câu chuyện bất hiếu đã được các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin và lên tiếng cảnh báo. Nhưng còn có một phía khác của sự bất hiếu mà chúng ta chưa lên tiếng hoặc chưa ý thức rõ về nó mà có người gọi nó bằng một cái tên “Sự bất hiếu ngọt ngào”.
“Sự bất hiếu ngọt ngào” là chỉ những đứa con có đủ điều kiện vật chất để nuôi những người mẹ. Nhưng những đứa con đó không cho mẹ mình được tham gia vào những sinh hoạt tinh thần của gia đình. Sự thật là có những bà mẹ chỉ sống giữa những đứa con như một thực thể sống tự nhiên chứ không phải là một trung tâm của tình cảm. Với lý do công việc và với muôn vàn lý do khác, những đứa con đã để mẹ mình sống cô độc ở một làng quê gần, xa nào đó hoặc ngay trong chính thành phố mà họ đang sinh sống.
Thay cho sự hiện diện của họ trước mẹ mình trong những ngày nghỉ là sự hiện diện của một gói quà và những đồng tiền. Thay cho những lời tâm sự của những đứa con với mẹ mình trong những buổi tối khó ngủ của người già là những người giúp việc được trả lương cao. Với đức hạnh của sự hy sinh vô bờ của mình, những người mẹ lại một lần nữa đã ghánh chịu một cuộc sống cô đơn như vậy cho đến khi chết.
Một thời gian chúng ta có nói đến việc những đứa con gửi cha mẹ vào nhà dưỡng lão trong các nước phương Tây hoặc châu Âu. Và có không ít người quan niệm đó là sự trốn tránh trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ khi cha mẹ về già. Nhưng sau một thời gian quan sát và có nghiên cứu thực tế ở các nước đó, tôi thấy đó là cách những đứa con tìm cho cha mẹ họ một không gian thích hợp và có ý nghĩa nhất với cha mẹ khi ở tuổi già và đó cũng là một trong những văn hoá sống của các nước đó. Nhất là khi cha mẹ họ có những vấn đề của tuổi tác, sức khoẻ và tâm lý. Nhưng hầu như hàng ngày, họ gọi điện trò chuyện với cha mẹ và hàng tuần, họ vẫn đến thăm cha mẹ trong nhà dưỡng lão. Họ ở lại với cha mẹ có khi cả ngày để trò chuyện và vui chơi cùng cha mẹ.

Có những người mẹ trong những năm cuối đời chỉ mơ một giấc mơ giản dị nhưng thật đau đớn và thương cảm là có một cái Tết được ăn Tết với con cháu mình. “Con bận lắm. Nhiều khách khứa đến làm việc lắm. Mà nhà cửa bỏ đấy trộm nó vào nó khuân hết. Tết con không về được. Bà cần gì thì cứ bảo. Con sắm sửa đầy đủ cho bà”. Đấy là những ngôn từ càng ngày càng trở lên quen thuộc của những đứa con nói với mẹ mình trong một ngày cuối năm về thăm mẹ vội vã. Những lý do trên chỉ là sự bao biện cho thói ích kỷ và sự hoang hoá tình thương yêu của những đứa con đối với mẹ mình. Còn vị khách nào quan trọng hơn mẹ mình nữa? Còn của cải nào quí hơn mẹ mình nữa? Và đối với những bà mẹ, tài sản duy nhất có ý nghĩa là những đứa con.
Nhưng những đứa con đó không bao giờ hiểu được người mẹ của chúng không cần bất cứ quyền chức hay tiền bạc chúng đang có mà chỉ cần chúng ngồi xuống bên bà như thuở nhỏ đầy yếu đuối, sợ hãi và tin cậy trong sự che chở của bà hoặc thấy chúng lớn lên làm một người tốt. Nhưng chúng đã xa rời bà mà bà không có cách nào kéo chúng gần lại. Không phải chúng xa rời xa bà bởi không gian và thời gian do điều kiện sống và công việc mà chúng đang xa rời xa sự thiêng liêng của tình mẫu tử. Bà đã và đang mất chúng.
Tôi đã chứng kiến một bà mẹ gần 90 tuổi mắt đã mờ lần mò làm một con gà cúng đêm giao thừa trong khi những đứa con của bà đang quây quần vui vẻ đón giao thừa với gia đình riêng của họ ở thành phố chỉ cách nơi bà ở không quá 30 km. Không có bất cứ lý do gì có thể biện minh cho những đứa con khi bỏ quên mẹ mình trong những ngày đặc biệt và quan trọng như thế.
“Sự bất hiếu ngọt ngào” còn để chỉ những đứa con bỏ quên những người mẹ trong chính ngôi nhà của họ. Nhưng những người mẹ đó không bị bỏ đói mà ngược lại được “nuôi giấu” trong một đời sống vật chất đầy đủ. Trong không ít những ngôi nhà to, đẹp và đầy đủ tiện nghi, những đứa con đã “giấu” mẹ mình mà nhiều lúc chúng ta không làm sao có thể phát hiện ra là trong ngôi nhà đó có một bà mẹ.
Có những người thi thoảng lại đến thăm bạn mình trong suốt mấy năm trời nhưng không bao giờ được gặp bà mẹ của anh ta. Anh ta đã “giấu” mẹ trong một căn phòng trên tầng 3, tầng 4 gì đó của ngôi nhà. Anh ta dậy sớm đi làm vội vã nhiều lúc không còn kịp leo lên tầng chào mẹ. Trưa thì đương nhiên anh ta không về nhà. Tối anh ta về muộn. Vợ anh ta hoặc người giúp việc đã cho bà mẹ ăn cơm trước với lý do để cụ đi nghỉ sớm kẻo mệt. Anh ta trở về nhà ăn tối cùng vợ con và chuyện trò rồi điện thoại và cuối cùng lăn ra ngủ. Có không ít ngày anh ta hoàn toàn quên mẹ mình đang sống trong cùng ngôi nhà và âm thầm mong nhìn thấy con mình và trò chuyện mấy câu với con.
Càng ngày chúng ta càng được chứng kiến những đứa con khi có khách đến chơi thì khoe hết đồ này vật nọ đắt tiền, thậm trí khoe một con chim cảnh quí hàng ngàn đô la với một giọng nói thật “say đắm” mà chẳng thấy họ khoe một người mẹ vừa ở quê ra chơi hay đang ở đâu đó trong ngôi nhà to, rộng của họ.
Có những người không bao giờ để mẹ ngồi ăn cơm cùng khi vợ chồng anh ta có khách. Có lẽ sự xuất hiện của người mẹ đã già nua không còn phù hợp với những thù tạc, những vui buồn của anh ta nữa chăng. Nhưng anh ta đâu biết rằng, có những đêm khuya bà mẹ không thể ngủ và đầy lo lắng khi nghe tiếng ho của anh ta hay khi vợ chồng anh ta to tiếng. Bà mẹ sống giữa con cháu mà như sống trong một thế giới xa lạ.
Vì thế, có không ít người mẹ đã bỏ về quê sống một mình trong ngôi nhà cũ của mình. Bởi cho dù ở đó bà không được sống với những đứa con của mình thì bà cũng được sống với những gì vốn rất thân thương với bà như con chó, con mèo, cái cây, cái cối. Và thay vào sự chia sẻ, an ủi của những đứa con là sự chia sẻ và an ủi của những thứ kia kể cả những thứ vô tri vô giác. Và thực sự điều này làm cho chúng ta vô cùng xấu hổ và đau đớn.
Đức Phật dạy: Tội lớn nhất của đời người là bất hiếu. Có những kẻ đánh đập, nhiếc mọc mẹ mình, có những kẻ bỏ đói, bỏ rét mẹ mình, có những kẻ xưng “bà” xưng “tôi” với mẹ mình như với một người qua đường, qua chợ… Tất cả những kẻ đó đều là kẻ có tội. Và những kẻ vẫn cho mẹ mình ăn ngon, mặc đẹp nhưng bỏ quên mẹ mình trong thế giới tình cảm của họ thì họ cũng mang tôi như những kẻ nói trên.

Nhân kiệt Tây Sơn

Chân dung vua Quang Trung

Với tôi, đất Qui Nhơn không phải là nơi xa lạ. Hơn một lần, tôi lang thang chụp ảnh ở vùng quê Trung Bộ đầy nắng gió nhưng phì nhiêu tươi tốt, con người rất mực hiền lương này. Hơn một lần, tôi lặn lội đến Tây Sơn, đứng tần ngần trước chiếc giếng cổ bằng đá ong, tương truyền là của tổ phụ Tây Sơn tam kiệt. Hơn một lần, tôi loanh quanh ở bảo tàng Tây Sơn, thở dài nhìn những chiếu chỉ, thư tịch nguyên bản của Tây Sơn Nguyễn Huệ. Chúng nằm trong những lồng kính ố vàng, bụi bặm. Và bị bảo quản trong những điều kiện rất tồi tệ, không như người ta phải làm với các cổ vật vô giá: hút ẩm, cách nhiệt, hạn chế flash máy ảnh… Từ chiếu cầu hiền gởi cho La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, cho đến hịch đánh quân Thanh và rất nhiều thư tịch cổ khác, chúng vẫn sống sót một cách kỳ lạ, sau cuộc báo thù thảm khốc của Gia Long Nguyễn Phúc Ánh.